Showing posts with label tho-sua-xe. Show all posts
Showing posts with label tho-sua-xe. Show all posts

Saturday, January 31, 2015

Tuổi thọ của hệ thống nhông xích phụ thuộc rất nhiều vào việc kiểm tra và bảo dưỡng. Phải làm việc này mỗi khi xe chạy được 1.000 km, nếu không, chúng sẽ chóng mòn hoặc hỏng hóc bất ngờ trong lúc xe chạy, gây nguy hiểm.

Căn chỉnh xích tải xe máy

Kiểm tra độ căng chùng của xích


1. Tắt máy, dựng chân chống giữa lên và vào một số bất kỳ.

2. Tháo nắp cao su đậy hộp và dùng ngón tay nâng hạ đoạn xích chạy qua lỗ thăm. Độ chùng cho phép là khi khoảng dịch chuyển lên xuống bằng 20-30 mm (như hình vẽ).

3. Quay bánh sau chầm chậm và kiểm tra độ chùng xích ở nhiều điểm, kết quả phải không thay đổi. Nếu không đều, do nhông sau bị ô van hoặc một vài mắt bị đội răng, phải bôi trơn xích.

4. Kiểm tra độ bám khít của xích với nhông sau, nếu xích chỉ chạy trên đỉnh răng tức là đã quá rão, ô van...

5. Nếu dây xích hay nhông đã mòn hoặc hư hỏng quá, nên thay thế ngay. Không dùng xích mới với một đĩa mòn, cả bộ sẽ lại hỏng nhanh chóng.

Chỉnh độ căng chùng của xích


Nếu xích tải cần phải điều chỉnh, thao tác như sau:

1. Dựng chân chống giữa lên về số 0.

2. Nới lỏng ốc trục và ốc kẹp nhông sau.

3. Vặn êcu ở bên tăng đơ trái để chỉnh xích, vừa vặn vừa kiểm tra độ chùng cho đạt. Xoáy ốc ở phải theo bên trái, sao cho khấc ở hai bên tăng đơ cùng trị số so với dấu trên hai càng sau.

Chú ý

- Nếu tăng đơ đã kéo ra hết mức mà vẫn chùng thì phải thay xích.

- Khoảng tự do của bàn đạp phanh sau sẽ bị ảnh hưởng khi vị trí trục bị thay đổi theo xích. Hãy chỉnh lại nếu cần.

Căn chỉnh xích tải xe máy

Căn chỉnh xích tải xe máy

By: Unknown on: 4:47 PM
( Hướng dẫn thay lốp xe loại không săm ) - Khi chọn lốp để thay thế, cần đọc ký hiệu của loại tương thích được ghi trên vành xe, tránh lắp sai chỉ số. Không nên lắp loại lốp đặc biệt này vào vành thông thường, bánh xe sẽ xuống hơi rất nhanh hoặc văng ra khi xe chạy, gây nguy hiểm.

Hầu hết các xe mô tô loại 500-700 cc và các xe gắn máy đời mới đều dùng loại lốp xe không chứa săm, lắp trên loại vành được thiết kế riêng. Loại vành này ở trong được phủ thép nhưng phần bên ngoài bằng hợp kim nhôm, rất dễ hư hỏng.

Khi thay lốp xe, phải dùng dụng cụ bẩy một cách cẩn thận, tránh để mặt vành bị cày xước hoặc biến dạng. Tốt nhất nên đặt một tấm đệm lót vào giữa dụng cụ bẩy và vành. Hãng Honda có bán một loại đệm bảo vệ (ký hiệu No.7772-0020200), tiện dụng cho việc tháo lốp không săm.

Hướng dẫn thay lốp xe loại không săm

Thao tác tháo


1. Xả hết hơi trong bánh xe.

2. Ép hai mép lốp vào giữa tâm vành, bôi trơn chúng bằng xà phòng.

3. Đặt tấm đệm (nếu có) và thanh bẩy vào mép lốp gần vị trí van, bẩy cho một phần của nó vượt ra khỏi vành.

4. Thêm một thanh bẩy thứ 2 vào cạnh thanh thứ 1, để giữ mép ở ngoài không bật trở lại vành. Tiếp tục thực hiện bước 3 xung quanh vành để lấy trọn một vòng mép lốp ra.

5. Giữ bánh xe đứng thẳng, cài một thanh bẩy vào giữa mép lốp còn lại với vành, cùng phía với mép tự do. Thao tác như bước 3, tháo nốt phần còn lại.

Thao tác lắp


1. Kiểm tra cẩn thận tình trạng chiếc lốp sắp được lắp, làm sạch vành.

2. Nếu là lốp mới, trong lòng có gắn sẵn những khối cao su cân bằng động, không được cắt bỏ. Điểm nhẹ nhất của lốp được nhà sản xuất đánh dấu bằng một ký hiệu màu ở gần mép, đặt nó ở gần lỗ chân van.

3. Bôi trơn hai mép lốp mới bằng xà phòng.

4. Đặt nửa bên dưới của một mép lốp vào vành rồi ép nửa trên vào sau. Chỉ sử dụng thanh bẩy ở đoạn cuối cùng cần nhiều lực mà thôi.

5. Với mép lốp còn lại, nhét phía đối diện với van vào vành, bẩy dần từng đoạn ngắn dồn phần cuối tới chân van là vào hết trong vành. Xoay vài vòng kiểm tra dải tiếp xúc giữa lốp với vành.

6. Vừa bơm vừa xoay và động bánh xe xuống đất để các mép lốp tiếp xúc với vành tốt hơn. Bơm hơi vào với áp lực lớn hơn quy định một chút để mép lốp bị ép chặt với lòng vành, sau đó xả bớt cho tới mức quy định.

Lưu ý


- Mỗi khi tháo rời lốp ra khỏi vành là phải thay van hơi mới.

- Nếu hơi bị thoát ra trong khi bơm thì phải bôi keo vá lốp vào 2 mép, ép chặt chúng vào vành và bơm lại.

Hướng dẫn thay lốp xe loại không săm

Hướng dẫn thay lốp xe loại không săm

By: Unknown on: 4:43 PM
( Để xe luôn hoạt động tốt ) - Kết hợp thông số trên công tơ mét cùng với lịch bảo trì dưới đây, bạn sẽ biết cần phải làm gì, với bộ phận nào và khi nào, để "chiến mã" của mình chạy ổn định, bền bỉ.

Để xe luôn hoạt động tốt

Để theo dõi thường xuyên, bạn nên in lịch này và dán ở góc để xe, dưới yên hoặc mặt trong cốp.

Nội dung công việc
Số km xe đã chạy
1.000
4.000
8.000
12.000
Ống dẫn nhiên liệu
Màng lọc xăng
Trụ ga
Cánh bướm gió
Lọc gió
Bugi
Khe hở xu pap
Dầu máy
Phin lọc dầu
Chỉnh garanti
Xích tải
Bình điện
Má phanh
Hệ thống phanh
Công tắc đèn phanh
Đèn pha - cốt
Hệ thống ly hợp
Chân chống nghiêng
Ống nhún
Ốc, vít, bu lông, trục
Bánh xe
Cổ xe và tay lái
-
-
-
-
-
-
I
R
-
I
O
-
-
I
-
-
I
-
-
I
I
I
I
C
I
I
C
I
I
R
-
I
O
I
I
I
I
I
I
I
I
-
I
-
I
C
I
I
C
R
I
R
-
I
O
I
I
I
I
I
I
I
I
I
I
-
I
C
I
I
R
I
I
R
C
I
O
I
I
I
I
I
I
I
I
-
I
I
Chú thích
I: Kiểm tra, làm sạch, điều chỉnh, bôi trơn.
C: Súc rửa, làm sạch.
R: Thay thế.
O: Cứ mỗi 1.000 km kiểm tra bôi mỡ 1 lần.

Để xe luôn hoạt động tốt

By: Unknown on: 4:25 PM
Xe của bạn còn rất mới và thuộc loại tốt nhưng không nổ garanti được, do kim xăng trong quả ga chưa được đặt đúng. Để đặt lại vị trí kim xăng và căn chỉnh xăng gió, bạn chỉ cần một chiếc tô vít nhỏ.

Cách chỉnh garanti

Nguyên lý bộ chế hòa khí


Luồng không khí do piston hút qua bầu lọc gió tới đầu ống phun xăng sẽ kéo xăng vọt ra, tạo thành hỗn hợp cháy. Cánh le nằm sau bầu lọc gió, hỗ trợ khởi động khi trời lạnh. Quả ga được nối với tay ga bằng cáp, giúp người lái xe điều tiết lượng hỗn hợp cháy đi vào buồng đốt.

A: Bình giữ mực xăng.

B: Đường dẫn khí từ bầu lọc gió vào.

C: Đường dẫn xăng lên lỗ phun.

1. Phao, 2. Giclơ, 3. Đường xăng vào, 4. Le gió, 5. Quả ga cùng kim xăng, 6. Hỗn hợp nhiên liệu đi vào buồng đốt.

Điều chỉnh tỷ lệ xăng - khí


- Kiểm tra làm sạch bầu lọc gió, xử lý nếu cánh le gió bị kẹt ở vị trí đóng.

- Tháo quả ga, rút kim xăng ra để chỉnh khoen chặn lên phía đầu nhọn của nó thêm 1 hoặc 2 nấc.

- Sau khi lắp lại hệ thống, chỉnh lại garanti theo các bước sau:

Nới ốc chỉnh dây ga cho lỏng ra khoảng 1 mm.

Vặn vít xăng (thường nằm chìm đầu trong hốc thân bộ chế hòa khí, đầu vặn bằng tô vít bẹt) vào tận cùng rồi lại nới ra 1-1,5 vòng.

Khởi động máy rồi giữ nổ vài phút cho nóng lên.

Chỉnh vít gió (nằm ngay chân trụ lắp quả ga của bộ chế hòa khí) sao cho có thể buông hết tay ga mà máy vẫn nổ nhỏ đều và êm. Việc thêm xăng hoặc gió bằng cách chỉnh 2 vít nói trên có thể phải làm vài lần mới đạt mức garanti chuẩn.

Cách chỉnh garanti

Cách chỉnh garanti

By: Unknown on: 4:16 PM
( Cách loại trừ bọt khí trong dầu phanh ) - Phanh bị E là hiện tượng trong dầu có lẫn những bọt khí, chúng làm giảm hiệu suất truyền lực trong hệ thống và nhanh hỏng dầu. Việc xả E chỉ nên thực hiện mỗi khi phải tháo rời các chi tiết, thay dầu mới hoặc lúc bóp phanh không ăn, cảm thấy có sự đàn hồi.

Sơ đồ nguyên lý phanh dầu


Cách loại trừ bọt khí trong dầu phanh

A. Xi-lanh; B. Piston đẩy;

C. Bình chứa; D. Ống dẫn;

E. Áp kế đặt ở 4 vị trí.

Nguyên lý - Cấu tạo

Trong một hệ thống chứa đầy dầu phanh bao gồm xi-lanh, piston và một bình chứa, thông nhau bằng ống dẫn cao áp, người ta lắp mỗi nơi một áp kế. Khi piston ép dầu trong xi-lanh, áp lực ở đây chỉ bao nhiêu thì ở các vị trí khác cũng có trị số như vậy. Nguyên lý nói trên được áp dụng trong hệ thống phanh thủy lực, trang bị cho xe gắn máy đời mới.

Cơ cấu này gồm một bộ xi-lanh - piston chính, được điều khiển bởi tay phanh, và phần ngàm lắp cố định với phuộc nhún của xe. 

Ngàm phanh có chứa 2 bộ xi-lanh - piston nhỏ hơn, nằm đối diện nhau. Đầu đẩy của các piston con là gối phanh, kẹp đĩa quay ở giữa. Khi bóp tay phanh, áp lực truyền qua dầu theo ống dẫn từ xi-lanh cái tới các xi-lanh con của ngàm phanh, lực này tác dụng vào các piston con, đẩy các gối phanh kẹp chặt vành đĩa quay. 

Đĩa phanh làm bằng hợp kim có độ bền cao và dẫn nhiệt tốt, có thể được khoan lỗ để làm mát và loại trừ bụi bẩn, gắn cố định vào may-ơ và quay theo nó như một khối. 

Ống dẫn dầu phanh thường là loại ống dẻo, có độ bền cơ học và chịu áp lực nén cao, đầu nối của chúng là các răc-co cao áp. Má phanh có vạch màu đỏ, báo tới hạn thay mới. 

Phanh đĩa có 3 loại, phân biệt bởi cấu tạo ngàm kẹp: Cố định, di động (loại 2 xi-lanh con) và kiểu trượt qua lại. Trên xe máy đời mới thường lắp loại có ngàm kẹp kiểu cố định.

Khi má phanh bị mòn dần, dầu trong bình chứa sẽ tự động bù thêm vào xi-lanh cái, giữ đều khoảng hở giữa chúng với đĩa quay.

Xả E cho hệ thống


Các bước thao tác như sau:

1. Tháo rời nắp che bụi và gắn một ống nhựa trong suốt vào đầu ốc xả E trên ngàm phanh. Đặt đầu còn lại của ống vào một bình chứa sạch, đổ vào bình một ít dầu thủy lực, vừa đủ để làm ngập đầu ống. Ống cần phải đủ dài để có thể cuộn thành một vòng nằm ở ngay bên trên ốc xả, tránh bọt khí bị kéo ngược trở lại ngàm phanh.

2. Lau sạch bụi bám trên nắp đậy của xi-lanh cái, tháo vít giữ để nhấc nắp đậy và màng chặn ra ngoài, đổ đầy dầu phanh vào bình chứa. Gắn tạm nắp lại, đề phòng dầu bắn ra ngoài hoặc bụi bặm lọt vào.

3. Bóp phanh từ từ và nhồi nhiều lần đến khi thấy cứng tay thì giữ chặt lại.

4. Mở ốc xả E ra khoảng 1/2 vòng, dầu và bọt khí bị ép ra sẽ nhìn rõ trong ống nhựa lắp trên đầu vú xả. Lúc này tay phanh từ từ ép theo đến gần hết tầm thì vặn ốc xả chặt lại. Lặp lại bước 3, 4 nhiều lần, cho đến khi thấy dầu thoát ra ở đầu ống không còn chút bọt khí nào cả.

5. Suốt quá trình, gõ nhẹ lên ngàm phanh làm long các bọt khí bám ở thành trong của hệ thống. Duy trì dầu trong bình chứa của xi-lanh cái luôn ở vạch đầy tối đa, bởi vì khi liên tục phải bù vào hệ thống thì mực dầu ở bình chứa sẽ bị hạ thấp xuống.

6. Vẫn duy trì lực bóp ở tay phanh, siết chặt ốc xả, sau đó thêm dầu vào bình chứa của xi-lanh cái cho đến vạch UPPER. Lắp màng chặn và nắp đậy, siết vít giữ.

7. Thử lại tình trạng hoạt động của phanh, nếu còn cảm giác đàn hồi, có nghĩa là bọt khí còn tồn tại, phải xả lại lần nữa.

8. Sau khi hoàn tất công việc, kiểm tra lại sự rò rỉ của đường ống dẫn và siết chặt tất cả các rắc-co.

Chú ý


- Dùng vải dày hoặc tấm nhựa đậy thùng xăng, bánh xe và đầu tay lái lại, để chúng không bị hư hỏng trong trường hợp dầu phanh vị vương vãi ra ngoài. Phải lau chùi ngay lập tức khi dầu dây vào các bề mặt sơn hoặc xi mạ của xe, sau đó rửa sạch lại bằng nước xà phòng.

- Nên sử dụng dầu thủy lực loại DOT 4 hoặc loại dầu mà nhà sản xuất ghi trên cụm phanh. Luôn luôn dùng dầu có cùng một mã số, tuyệt đối không pha trộn nhiều chủng loại.

- Trong quá trình xả E, nếu lỡ để bình chứa của xi-lanh cái trống rỗng, thì không khí sẽ lọt vào trong hệ thống và phải lặp lại các bước từ đầu.

Cách loại trừ bọt khí trong dầu phanh

Cách loại trừ bọt khí trong dầu phanh

By: Unknown on: 4:04 PM
( Hướng dẫn khắc phục khi tăng tốc xe bị "khựng" ) - Khi tăng ga, xe máy bị khựng lại hoặc hẫng mất vài nhịp nổ, hiện tượng này gây khó chịu, thậm chí nguy hiểm nếu đang vượt ôtô. Để khắc phục, chỉ cần trong tay có tuýp tháo bugi và tô vít.

Hướng dẫn khắc phục khi tăng tốc xe bị "khựng"

Nguyên nhân của pan này có thể nằm ở chế hòa khí, điện cao áp hoặc tổng hợp lỗi của cả hai hệ thống này.

Kiểm tra chế độ xăng - gió, chỉnh lại garanti, sau đó nên chạy thử xe xem kết quả, nếu chưa được làm tiếp bước sau.

Tháo kim ga, xem phe gài đang đặt ở mức nào. Vị trí phù hợp nhất của phe gài cần phải được thử thực tế, bằng cách cho xe chạy thử ở chế độ tăng tốc, xem ứng với vị trí nào của phe gài, xe chạy bốc nhanh và êm nhất. Thân kim ga nếu bị mòn vẹt, nên thay cả bộ kim và quả ga đúng loại gin, vì nếu dùng hàng nhái, xe sẽ không thể tăng tốc đạt yêu cầu.

Kiểm tra kích thước và tình trạng lỗ tia chính.

Xăng trong bình giữ ở mức cao hay thấp quá đều làm cho xe tăng tốc kém, hao xăng và chạy không ngọt.

Kiểm tra tình trạng lọc gió, nếu giấy quá bẩn hay rách cần được thay mới. Nếu bằng mousse như ở xe Wave hay Dream, có thể làm vệ sinh bằng cách ngâm và xả nhẹ nhiều lần trong xăng, vắt bóp cho khô và tẩm lại xăng pha 10% nhớt, bóp cho kiệt rồi lắp lại.

Tháo bugi ra ngoài, kiểm tra khe hở và tình trạng của bugi, tình trạng điện cao áp mạnh hay yếu. Khi đặt đầu dây cách thân máy khoảng 6-8 mm, tia lửa vẫn phóng mạnh, có màu xanh sáng là tốt.

Đối với các động cơ hai xi-lanh cần chú ý kiểm tra thêm:

Hai máy nổ đều, hay một bên bị chết hoặc yếu hơn bên kia.

Các ốc gió và kim ga, lửa bugi, chế hòa khí phải được chỉnh đồng bộ trên cả hai máy.

Hướng dẫn khắc phục khi tăng tốc xe bị "khựng"

Hướng dẫn khắc phục khi tăng tốc xe bị "khựng"

By: Unknown on: 3:46 PM
( Cách chữa xe máy bị sặc xăng ) - Nếu hỗn hợp xăng và khí đưa vào buồng đốt có tỷ lệ xăng quá cao thì sẽ không cháy được, mặc dù vẫn có tia lửa điện từ bugi. Hiện tượng này gọi là sặc xăng, nó làm cho buồng đốt và bugi bị ướt, máy không nổ được.

Cách chữa xe máy bị sặc xăng

Nguyên nhân


Thông thường, các lỗi phát sinh từ bộ chế hòa khí. Chẳng hạn như mức xăng trong bình điều tiết quá cao, gic-lơ chính có cỡ lớn hơn tiêu chuẩn, bướm gió bị kẹt đóng, các vít chỉnh tỷ lệ hỗn hợp đặt sai vị trí...

Ngoài ra, còn có nguyên nhân xăng không bắt cháy, tích tụ lại sau vài lần khởi động, bugi đánh lửa yếu hoặc bị ướt dầu, sức nén của piston yếu (séc-măng mòn hoặc xu-páp bị xì)...

Trong các trường hợp trên, bạn càng cố khởi động xe, xăng càng xuống nhiều hơn và động cơ không thể nổ được.

Khắc phục


Khi bạn đã khởi động 5-6 lần không được, hãy ngừng ngay việc đó và thực hiện các bước sau:

- Khóa xăng lại, vặn hết tay ga lên và tiếp tục bấm start thêm vài lần nữa, thường là máy nổ được ngay. Khi bắt đầu nổ, tiếng máy sẽ không đều trong khoảng 5 đến 10 giây, sau đó mới ổn định. Bây giờ, bạn đã có thể mở khoá xăng để vận hành xe bình thường.

- Nếu sau các bước trên, xe vẫn không nổ, bạn hãy tháo bugi ra, rửa sạch bằng xăng và bàn chải, thổi cho khô. Tiếp theo, hãy tắt công tắc điện, bịt ngón tay vào lỗ lắp bugi rồi đạp cần khởi động vài chục lần để xăng trong buồng đốt thoát bớt ra ngoài. Cuối cùng, lắp bugi vào và khởi động bình thường.

Đây chỉ là giải pháp tình thế để có thể đi xe được ngay. Về lâu dài, bạn nên điều chỉnh lại các chế độ trên bộ chế hòa khí. Nếu cần, hãy kiểm tra tổng thể, tìm ra nguyên nhân của tình trạng sặc xăng để sửa chữa một cách căn bản.

Cách chữa xe máy bị sặc xăng

Cách chữa xe máy bị sặc xăng

By: Unknown on: 3:09 PM
( Kiểm tra, bảo dưỡng, định kỳ bugi ) - Bugi là bộ phận tạo ra tia lửa điện trong buồng đốt, môi trường làm việc của nó rất khắc nghiệt, tần suất làm việc cao, chi phối rất nhiều đến hiệu suất của động cơ. Sau mỗi 4.000 km, cần phải tháo bugi ra để kiểm tra định kỳ, chỉnh khe hở giữa chấu mát và điện cực (+).

Kiểm tra, bảo dưỡng, định kỳ bugi

1 - Điện cực chính.

2, 8, 9 - Keo chèn.

3 - Long đen.

4, 7 - Sứ cách điện.

5 - Khe hở chấu mát - cực (+).

6 - Đầu tiếp nguồn cao áp.

10, 11 - Vỏ kim loại.

12 - Chấu mát.

Kiểm tra chung thường kỳ


Khi xe của bạn chạy được một thời gian (trên 2.000 km), tháo bugi ra để quan sát, ta có thể đoán biết được tình trạng động cơ:

1. Sứ cách điện (bao quanh cực + ở giữa vành tròn đầu bugi) có màu đỏ gạch nung, chấu và nồi bugi khô sạch, chứng tỏ động cơ hoàn toàn tốt.

2. Sứ cách điện và chấu bị bao phủ một lớp muội đen, khô, nghĩa là nhiên liệu không được đốt cháy hết, do các nguyên nhân sau:

- Vít lửa rơ, rỗ.

- Điện thứ cấp yếu.

- Bugi đang dùng sai tiêu chuẩn (loại quá nguội).

- Chế hoà khí chỉnh sai tỷ lệ hỗn hợp, bị thừa xăng.

- Áp lực nén trong buồng đốt thấp, xú páp bị xì.

3. Sứ cách điện, chấu mát bẩn, bám đầy muội than ướt, như vậy là dầu nhờn bị lọt vào buồng đốt, do séc măng và xi lanh mòn.

Bảo dưỡng căn chỉnh theo định kỳ

Trình tự thao tác như sau

1. Dựng xe trên chân chống giữa, rút nắp dây cao áp khỏi bugi.

2. Làm sạch khu vực quanh chân bugi trên nắp quy lát.

3. Dùng tuýp bugi tháo nó ra khỏi đầu quy lát.

4. Ngâm đầu chấu vào xăng, dùng que gỗ moi sạch muội bẩn bên trong nồi bugi, tránh làm sứt vỡ sứ cách điện. Rửa lại với xăng thật sạch và thổi khô.

5. Dùng một vật chuẩn phẳng dẹt dày 0,7 mm để kiểm tra khe hở giữa chấu mát với điện cực (+) ở trung tâm. Khe này rộng quá thì tia lửa khó phóng qua, mất lửa ở tốc độ thấp, chóng hỏng bôbin sườn. Nhưng nếu nó hẹp quá thì tia lửa lại không đủ lớn để hỗn hợp bắt cháy, xe không bốc, tốn xăng. Chỉnh lại khe hở bằng cách gõ vào hoặc nạy ra mỏ chấu mát một cách nhẹ nhàng.

6. Sau khi đã làm sạch, quan sát xem sứ cách điện có nứt, mẻ không, điện cực có mòn quá không. Nếu có một trong các dấu hiệu trên thì phải thay bugi mới.

7. Bugi vẫn đang ở ngoài, cắm nắp tiếp điện vào, kề vỏ sắt của nó lên thân máy, đạp cần khởi động rồi quan sát tia lửa, chúng phải phóng đều, mạnh, tập trung giữa chấu và cực (+). Nếu lửa nhỏ, phóng lung tung ra xung quanh, chứng tỏ bugi yếu phải thay mới.

8. Khi lắp lại bugi vào quy lát, giỏ vài giọt dầu vào gien rồi dùng tay xoáy nhẹ cho đến khi vào hết, dùng tuýp siết thêm 1/4 vòng.

9. Nếu điện cao áp bị mất qua dây và chụp bugi, xe thường chết máy khi đi mưa hoặc sau khi rửa. Kiểm tra kỹ, nếu thấy lỗi thì phải thay mới, thao tác cuối cùng là lắp lại nguồn điện này và nổ thử máy.

Kiểm tra, bảo dưỡng, định kỳ bugi

Kiểm tra, bảo dưỡng, định kỳ bugi

By: Unknown on: 2:50 PM
( Tự sửa xe máy ) - Cứ chạy một quãng, chiếc xe chết máy, nhưng nghỉ chừng 5 phút lại chạy được. Nguyên nhân hiện tượng khó hiểu này là nắp bình xăng không có lỗ thông hơi, đây là một lỗi thường gặp do chế tạo. Chỉ cần khoan lỗ thông hơi trên nắp bình xăng là ổn.

Tự sửa xe máy

Hư hỏng tại động cơ


Tăng ga mà động cơ không bốc, phát ra tiếng nổ lép, nguyên nhân thường gặp là bugi bị hỏng, cần thay mới.

Xe nhanh bị nóng máy trên mức bình thường, máy nổ rung mạnh chỗ để chân. Đây là hiện tượng buồng đốt bị thu nhỏ, áp lực nén tăng cao. Phải xử lý bằng cách thay đệm quy lát mới dày hơn hoặc tiện bớt một phần kim loại trên mặt đầu piston.

Nổ máy sau 5 phút thì xuất hiện tiếng gõ lớn, liên tục từ động cơ. Lỗi này do thanh truyền bị cong, va chạm với má trục khuỷu. Phải tháo rời động cơ, thay thanh truyền và ép biên lại.

Xe chạy ổn định sau 5 phút thì bắt đầu xả nhiều khói trắng xanh. Đây là hiện tượng dầu sục vào buồng đốt từ những vết nứt hoặc lỗ mọt trên nắp quy lát. Phải tháo rời nắp này ra, quan sát thật chính xác điểm lỗi để xử lý bằng keo chuyên dụng hoặc thay mới.

Hỏng tại hệ thống đánh lửa


Xe đột ngột chết máy, không khởi động lại được. Nguyên nhân do hỏng cục IC, phải thay mới bằng loại của Nhật.

Xe đang chạy bị chết máy, để nguội khoảng 10 phút sau thì nổ lại được. Hư hỏng này phát sinh từ cuộn tín hiệu đánh lửa, còn gọi là cục kích, phải thay mới.

Động cơ không nổ, mặc dù máy đề quay mạnh, kiểm tra thấy mất lửa ở bugi. Như vậy là cuộn lửa nguồn đã hỏng, cần thay.

Máy chạy ậm ạch, khó nổ, hao xăng, kiểm tra thấy tia lửa bugi kém hoặc không có. Phải kiểm tra cuộn sơ và thứ cấp trong bộ điện, sau đến bôbin sườn, hỏng phần nào thay phần đó.

Hỏng điện đèn, hệ thống khởi động


Đèn trước không đủ sáng hoặc dễ bị cháy bóng khi đi nhanh, mặc dù ắc quy tốt. Nguyên nhân do bộ chỉnh lưu không đúng quy cách, bên trong bộ này có điện trở tiết chế dòng điện máy phát, vì trị số điện trở cao hay thấp quá làm cho đèn không đủ sáng hoặc dễ cháy bóng. Nên thay mới bộ tiết lưu loại tốt, đúng công suất.

Bình ắc quy tốt, nhưng ấn nút khởi động lúc được lúc không. Đây là hiện tượng hỏng rơ le hoặc các chổi than bên trong mô bin khởi động, các chi tiết này rẻ tiền dễ kiếm và thay thế dễ dàng.

Bấm nút start mà đề không quay, thử còi, đèn tốt. Như vậy là mô bin khởi động hỏng, các nam châm nằm trong thân máy đề bị bong khỏi vỏ. Tháo rời mô bin này ra kiểm tra, nếu bạc và thân rôto chưa bị sát cốt hư hỏng thì chỉ ép lại nam châm là được.

Các trục trặc ở bộ ly hợp


1. Nồi ly hợp 3 càng ly tâm

2. Bộ côn đĩa

3. Cam cắt khớp ly hợp

4. Cơ cấu hãm vỏ nồi 3 càng

Lúc khởi động, có tiếng kêu rào rào trong môbin nhưng trục máy không quay, động cơ không nổ được. Khớp ly hợp một chiều phía sau vô lăng bị hỏng, thông thường do các viên bi đề bị mòn nhỏ đi. Nên thay bi mới, sau đó kiểm tra 3 lò xo ống đẩy và mặt ngoài của lõi dẫn động, nếu mòn cũng nên thay mới.

Xe đang nổ không tải, cài số là chết máy, nguyên nhân là nồi ly hợp ba càng ly tâm không cắt khớp. Kiểm tra các lò xo hồi và các khuyên giữ càng của má ly hợp.

Cài số nặng là do lò xo cần số không đúng quy cách, thay chiếc khác có áp lực nhẹ hơn.

Xe bị dính côn, vào số rất khó, xe bị giật khi chuyển các nấc tốc độ, chỉ cần chỉnh lại vít ly hợp theo hướng cắt khớp là được.

Trượt côn là hiện tượng kéo ga mà xe không vọt mặc dù vào số hợp lý (ví dụ vào số 3, 20 km/h) và xe không tải nặng. Nếu chỉnh vít ly hợp không có kết quả, bạn phải dán hoặc thay đĩa côn mới.

Tự sửa xe máy

By: Unknown on: 12:47 PM
( Cách kiểm tra máy ở xe có nhiều xi lanh ) - Những xe có nhiều động cơ sửa chữa rất phức tạp.. Khi xe có hai động cơ trở lên bị trục trặc như sức tải kém, máy nóng thất thường, hao xăng, cần phải kiểm tra xem các xi lanh có nổ đều hay không, có máy nào chết hay không?

Cách kiểm tra máy ở xe có nhiều xi lanh

Chúng ta thử như sau: Cho máy nổ ở tốc độ ga-răng-ty, lần lượt làm chết từng máy bằng cách rút tẩu bugi ra khỏi đầu bugi để tắt lửa.

Chú ý theo dõi tốc độ và tình trạng nổ của máy sau khi rút dây cao thế. Nếu tốc độ động cơ giảm rõ rệt hoặc máy ngừng hoạt động thì động cơ đó hoạt động bình thường.

Ngược lại, khi rút dây cao thế ra, động cơ vẫn hoạt động bình thường như khi chưa rút, chứng tỏ máy đó “chết” hoặc “yếu”, phải xác định nguyên nhân để sửa chữa.

Cách kiểm tra máy ở xe có nhiều xi lanh

By: Unknown on: 11:06 AM
( Trục trặc kĩ thuật của máy lạnh ôtô ) - Vào mùa hè, khi nhiệt độ môi trường tăng lên đến 35-37 độ C, đa số các loại máy lạnh trên ôtô thường phải làm việc hết công suất. Nhưng khi máy quá tải rồi mà người ngồi trong xe vẫn thấy nóng là lúc máy lạnh của xe bạn đã có vấn đề.

Trục trặc kĩ thuật của máy lạnh ôtô

Máy lạnh cần được kiểm tra thường xuyên


Máy lạnh ôtô phải đạt những yêu cầu: tạo được cảm giác thoải mái, mát mẻ cho người ngồi trong xe. Khi nhiệt độ trong xe đã hạ xuống mức trung bình nói trên, bloc lạnh phải tự động ngưng chạy. Sau đó, khi nhiệt độ trong xe tăng lên khoảng 2 độ C so với lúc tắt, bloc lạnh phải tự động chạy trở lại.

Quạt gió dàn lạnh phải chạy được nhiều tốc độ khác nhau. Ở tốc độ trung bình, quạt gió dàn lạnh phải đưa luồng gió đến được băng ghế cuối. Quạt phải được thiết kế ở 3 tốc độ: chậm, trung bình, nhanh. Luồng gió của máy lạnh phải được phân bố tương đối đều khắp không gian trong xe.

- Vì sao quạt gió thổi mạnh, sạc gas đầy đủ nhưng máy lạnh vẫn kém?

- Gặp trường hợp này, chúng ta nên kiểm tra những vấn đề sau đây:

+ Quạt giải nhiệt dàn nóng không chạy hoặc yếu, lắp ráp không đúng loại.

+ Lọc gas (filter) bị nghẹt.

+ Đề tăng-đơ bị nghẹt hay điều chỉnh sai.

+ Sạc gas đầy đủ nhưng vượt quá áp suất tối đa cho phép.

+ Bloc lạnh yếu (mòn, cũ).

+ Dàn nóng bị nghẹt, đất bụi bám đầy bề mặt làm lượng gió đi qua giảm, hiệu suất giải nhiệt kém.

+ Dàn lạnh bị nghẹt bên trong hay bụi bám đầy bề mặt toả nhiệt bên ngoài.

- Sạc dư gas hoặc thiếu gas quá thì có hại gì không?

- Hệ thống lạnh làm việc trong điều kiện thiếu gas, độ lạnh sẽ kém. Nếu gas bị xì nhiều, áp suất trong hệ thống giảm đi dưới mức an toàn, rơ le bảo vệ áp suất sẽ tự động tắt bloc. Ở loại xe không có rơ le bảo vệ áp suất thấp, khi thiếu gas, bloc vẫn chạy bình thường (kể cả khi hết hẳn gas). Điều này sẽ ảnh hưởng nặng tới bloc dẫn đến gãy dên, hoặc pít tông nén bị trầy, vỡ.

Ngược lại khi sạc dư gas, áp suất vượt quá mức quy định, độ lạnh chẳng những không tăng lên mà còn giảm đi. Sạc gas dư còn làm áp suất trong hệ thống tăng cao hơn bình thường, làm giảm tuổi thọ của các bộ phận, dễ gây ra tình trạng nổ ống gas. Sạc dư còn làm động cơ bị “nặng” hơn do xe phải kéo nặng hơn, công suất của xe bị giảm, tiêu hao nhiều nhiên liệu hơn.

Khi nhiệt độ môi trường là 30-35 độ C, tốc độ của máy là 2.000 vòng/phút, ở điều kiện bình thường, áp suất gas khi sạc đúng là 206-213 PSI (14,5-15 kg/cm2).

Trục trặc kĩ thuật của máy lạnh ôtô

By: Unknown on: 10:38 AM

Tuesday, January 27, 2015

( Tại sao phải kiểm tra sức nén động cơ ) - Lý do để kiểm tra sức nén động cơ: Kiểm tra định kỳ hoặc khi động cơ bị trục trặc cần xác định nguyên nhân.

Muốn biết được kết quả đo chính xác, tốt nhất cho máy chạy để đạt nhiệt độ bình thường rồi mới tháo bugi ra, lần lượt vặn đầu ống nối và đầu đồng hồ vào lỗ bugi tại quy lát động cơ.

Khi đo sức nén, không nên mở công tắc đánh lửa. Đối với loại xe phải mở công tắc mới đề máy được, nên tháo bugi ra khỏi đầu dây cao thế, kẹp hay nắm tất cả các đầu dây cao thế sao cho nối tắt xuống đầu mát thật chắc chắn.

Nếu nghi ngờ lọc gió bị nghẹt hay quá hạn sử dụng, bạn nên tháo hẳn chúng ra. Khi cần đề hay đạp để đo, nên đề liên tục và theo dõi đến lúc áp lực trên đồng hồ tăng cao nhất mới đọc kết quả.

Tại sao phải kiểm tra sức nén động cơ

Chẩn đoán

Sau khi đọc, ghi nhận được sức nén, so sánh với trị số chuẩn do nhà chế tạo cung cấp. Thường thì áp suất động cơ nằm trong khoảng 0,5-13 kg/cm2.

Sức nén nằm trong phạm vi quy định chứng tỏ động cơ có tình trạng tốt.

Sức nén cao hơn mức quy định tối đa:

- Có thể do gioăng quy lát mỏng hơn quy định, cần kiểm tra và thay gioăng nếu cần.

- Bên trong buồng đốt, đỉnh pít tông, chỏm đầu quy lát đóng nhiều muội than. Cần tháo đầu quy lát ra cạo sạch muội than ở đỉnh rồi ráp trở lại.

Sức ép thấp hơn quy định, có thể do:


- Gioăng quy lát bị xì, khi đạp khởi động hoặc động cơ đang nổ sẽ nghe tiếng ép hơi ra rất rõ.

- Súp páp bị rỗ, hay đội, cần chỉnh lại.

Séc măng bị mòn hay nòng bị xước. Cho vài giọt nhớt vào trong xi lanh qua lỗ bugi rồi thử lại. Nếu áp suất tăng ít có nghĩa là vết xước của nòng hoặc xi lanh đã mòn quá, phải làm lại hơi.

Tại sao phải kiểm tra sức nén động cơ

Tại sao phải kiểm tra sức nén động cơ

By: Unknown on: 7:04 PM
( Xe bị hao xăng? ) - Thông thường một động cơ 4 kỳ dung tích máy dưới 100 cc được điều chỉnh đúng, 1 lít xăng có thể chạy được 50-60 km với tốc độ trung bình 45-60 km/giờ. Với các loại xe dung tích máy lớn hơn có thể theo hướng dẫn của nhà sản xuất loại xe đó.

Khi nghi ngờ chiếc xe bị hao xăng, chỉ cần đổ xăng đúng dung lượng và theo dõi công-tơ-mét rồi tính thử. Nếu xe tốn nhiều xăng hơn mức quy định có nghĩa là xe đã bị hao xăng.

Những dấu hiệu kèm theo khi xe hao xăng:

- Máy nóng bất thường.

- Khói xe ra cay mắt.

- Công suất xe bị giảm, xe chạy yếu.

- Đề hoặc đạp khởi động rất khó nổ.

- Tiếng pô thoát không êm, không đều hoặc có tiếng kêu lụp bụp.

Những nguyên nhân làm chiếc xe hao xăng

- Lốp xe non hơi.

- Xe bị kẹt phanh hoặc người điều khiển xe phanh quá nhiều.

- Ốc chỉnh gió để sai vị trí. Trên một chiếc xe Dream hoặc Astrea 100 cc, chỉ cần xiết thêm hoặc nới 1/4 vòng so với vị trí chuẩn, 1 lít xăng thay vì chạy được 56 km chỉ còn chạy được 45 km.

- Kim ga đặt sai vị trí.

- Lọc gió bị nghẹt.

- Cân lửa sai.

- Khe hở bugi điều chỉnh sai quy định. Thông thường đối với các loại xe , khe hở nên để ở mức 0,6-0,7 mm.

- Bugi dơ bẩn, chất lượng xấu hoặc sử dụng quá hạn. Trên đây là nguyên nhân hao xăng đối với các xe còn “zin”. Đối với những xe đã cũ, hao xăng còn do kim ga bị mòn khuyết, mức xăng trong bình xăng con (chế hoà khí) cao hoặc thấp hơn quy định.

- Súp páp có thể bị dỗ, mòn, dơ.

Khi biết chính xác xe bị hao xăng, nên mang xe ra thợ để kiểm tra xem nguyên nhân của sự hao xăng chính xác là gì để có hướng khắc phục.

Xe bị hao xăng?

Xe bị hao xăng ?

By: Unknown on: 6:56 PM
( Những sự cố thường gặp ở ôtô trong mùa hè ) - Nhiệt độ trong mùa hè thường rất cao, không khí ngoài trời có thể lên đến 40 độ C, còn bề mặt đường nhựa có khi lên đến 50 độ C trong điều kiện như vậy, người lái xe cần chú ý tới những sự cố thường gặp.

Những sự cố thường gặp ở ôtô trong mùa hè

Trong quá trình chạy xe cần thường xuyên theo dõi nhiệt độ của máy xe, nếu phát hiện nhiệt độ động cơ lên quá cao thì phải tìm chỗ có bóng mát để dừng xe nghỉ, đồng thời mở nắp máy để thổi gió làm tản nhiệt nhanh, kiểm tra lượng nước trong két và độ chùng của dây cu-roa kéo quạt gió. Nếu phát hiện có vấn đề thì phải đổ thêm nước vào két và chỉnh dây cu-roa căng đúng như quy định. Bề mặt ngoài của két nước bị bám nhiều bụi bặm cũng khiến chúng tản nhiệt kém nên cần thường xuyên vệ sinh bề mặt két nước.

Khi máy bị quá nóng đến sôi nước, không được tắt máy đổ nước lạnh vào máy ngay mà phải thực hiện đúng cách khắc phục khi động cơ sôi nước.

Chạy xe trong mùa hè còn có thể xảy ra hiện tượng “nút hơi” ở động cơ xăng từ bộ chứa xăng đến chế hoà khí đột nhiên bị tắc nghẽn bởi một lượng hơi xăng tự phát sinh do nhiệt độ cao và tạo thành một cái nút làm gián đoạn đường cung cấp xăng vào các xi lanh, khiến động cơ ngừng hoạt động. Gặp trường hợp này, phải dừng xe nghỉ, chờ cho nhiệt độ máy hạ xuống, dùng cờ lê tháo rắc-co nối ống dẫn xăng vào buồng phao của bộ chế hoà khí, rồi dùng tay kéo cần bơm của xăng để đẩy khí ra ngoài, nút hơi sẽ bị loại bỏ.

Nếu bằng cách này mà vẫn chưa khắc phục được tình trạng máy không nổ được vì thiếu xăng (mặc dầu xăng vẫn còn trong thùng) thì hãy nghĩ ngay đến nguyên nhân vì nhiệt độ quá cao nên màng bơm xăng bị dãn, không đủ tạo ra áp lực cần thiết để đẩy xăng lên bộ chế hoà khí. Trong trường hợp này có thể dùng biện pháp tạm thời là lấy khăn tay nhúng nước lạnh rồi đắp lên trên bơm xăng để làm hạ nhiệt độ.

Những sự cố thường gặp ở ôtô trong mùa hè

Những sự cố thường gặp ở ôtô trong mùa hè

By: Unknown on: 6:47 PM

Monday, January 26, 2015

( Tư vấn sửa xe máy Spacy ) - Ở nước ta, người tiêu dùng chuộng xe Spacy ôn đới vì kiểu dáng thanh thoát, gọn nhẹ. Tuy nhiên, xe này mà sử dụng ở vùng khí hậu nóng như nước ta thường gặp phải hiện tượng cháy điốt, hỏng bầu lọc gió và chết giảm xóc trước.

Tư vấn sửa xe máy Spacy

Xe Spacy có hai loại: sản xuất dùng cho vùng khí hậu nóng có phanh chân và tay (thường gọi Spacy nhiệt đới), loại kia chỉ có phanh tay phù hợp với vùng khí hậu lạnh (xe Spacy ôn đới).

Sửa điốt


Xe Spacy khởi động bằng nguồn điện ắc quy. Loại điốt của xe Spacy ôn đới không có cánh tản nhiệt nên dễ cháy. Khi khởi động xe Spacy, vặn tay ga thấy đèn sáng chập chờn là điốt có vấn đề, bạn không nên cố đi, hãy tắt máy, dắt xe tới tiệm sửa. Bạn có thể yêu cầu thợ khắc phục bằng cách làm mát điốt (lắp thêm cánh tản nhiệt), với chi phí khoảng từ vài chục đến 100.000 đồng. 

Tuy nhiên, đó chỉ là biện pháp tình thế. Còn để hoàn toàn yên tâm, bạn nên yêu cầu lắp thêm một điốt phụ phòng khi điốt chính chết, điốt phụ sẽ thay thế điốt chính bảo vệ ắc quy, đảm bảo cho xe hoạt động bình thường. Dịch vụ này tốn khoảng 450.000-500.000 đồng.

Thay bầu lọc gió


Bầu lọc gió xe Spacy ở vị trí thấp, đúng đường xả của quạt gió nên rất nhanh bẩn. Thay một bộ bầu lọc gió "zin" giá khoảng 400.000 đồng, hàng Trung Quốc khoảng 150.000-250.000 đồng. Bạn cũng có thể khắc phục bằng cách thường xuyên lau rửa bầu lọc gió.

Bảo dưỡng giảm xóc trước


Giảm xóc trước xe Spacy chạy bạc như xe Cub 82, không có hệ thống bơm mỡ nên cần bảo dưỡng thường xuyên. Giá một lần bảo dưỡng cả bộ giảm xóc trước khoảng 20.000-50.000 đồng. Thay mới (bạc) khoảng 120.000-150.000 đồng. Nếu bạn có nhu cầu bảo dưỡng toàn bộ xe giá khoảng 80.000-150.000 đồng.

Tư vấn sửa xe máy Spacy

Tư vấn sửa xe máy Spacy

By: Unknown on: 2:23 PM

Sunday, January 25, 2015

( Bắt bệnh xe qua màu sắc bugi ) - Trong trường hợp xe của bạn có dấu hiệu hao xăng, nóng máy... một trong những phương pháp kiểm tra là tháo bugi của động cơ để quan sát. Màu sắc, tình trạng bên trong lòng sứ cách điện của bugi nói lên rất nhiều điều.

Bắt bệnh xe qua màu sắc bugi
Khi quan sát, chúng ta có thể thấy một số trường hợp sau:

Trường hợp 1: Sứ cách điện có màu đỏ gạch nhạt, màu vàng rơm, khô sạch chứng tỏ động cơ đang hoạt động tốt, được điều chỉnh đúng.

Trường hợp 2: Sứ cách điện có màu trắng hay trắng xám chứng tỏ nhiệt độ trong lúc động cơ làm việc nóng hơn bình thường và có thể do một loạt nguyên nhân sau:

- Cân lửa sớm hơn quy định, cần kiểm tra lại thời điểm đánh lửa và điều chỉnh lại cho đúng.

- Chế hòa khí bị thiếu xăng, cần kiểm tra và điều chỉnh lại chế hòa khí hay hệ thống phun xăng để chế không bị thiếu xăng nữa.

- Động cơ bị nóng thất thường do nguyên nhân khác như thiếu nhớt, lốp xe quá non làm tăng ma sát với mặt đường.

Trường hợp 3: Điện cực bị cháy hay mòn nhanh chóng. Đó là dấu hiệu động cơ bị nóng quá mức. Có thể do một trong các nguyên nhân sau:

- Chế hòa khí thiếu xăng.

- Cân lửa quá sớm.

- Sử dụng xăng có chỉ số octan thấp hơn yêu cầu. Hiện nay phải sử dụng xăng có chỉ số octan 92 (A92) hoặc có thể do động cơ cháy tự động (kích nổ).

Trường hợp 4: Sứ cách điện bị bao phủ một lớp than đen, khô mịn, chứng tỏ khi làm việc động cơ không đốt hết nhiên liệu và thường do các nguyên nhân:

- Lọc gió bị bẩn, nghẹt.

- Ruột dây bugi đã quá hạn sử dụng làm điện trở tăng cao hơn quy định hay bị đứt trong ruột.

- Mô-bin cao thế đánh lửa yếu.

- Đối với động cơ cũ, có thể do pít-tông, xéc-măng mòn hay súp-páp bị đội hoặc chỉnh khít quá.

- Mực xăng trong bình chế hòa khí có thể cao hơn quy định.

- Bugi có thể điều chỉnh lớn hơn hay nhỏ hơn quy định (0,6-0,7 mm). Tốt nhất là điều chỉnh theo hướng dẫn của nhà chế tạo.

- Bugi có thể quá hạn sử dụng hoặc sắp "chết".

Trường hợp 5: Sứ cách điện bị ướt, nóng bẩn. Đó là dấu hiệu của một động cơ bị "lên nhớt". Nguyên nhân có thể là:

- Bạc xéc-măng nhớt (bạc dầu) bị gãy, mòn, không ôm khít trong xilanh hoặc do lắp ráp sai.

- Lòng xilanh bị trầy xước

- Đổ dầu nhớt vào động cơ cao hơn quy định.

Bắt bệnh xe qua màu sắc bugi

Bắt bệnh xe qua màu sắc bugi

By: Unknown on: 11:14 PM
( Cách chỉnh khe hở xú - páp ) - Khi có tiếng kêu lách cách ở phía đầu động cơ, xe khó nổ, động cơ bị mất sức ép, yếu hơn bình thường... là lúc phải kiểm tra, điều chỉnh súp-páp. Thường thì sau 4.000-10.000 km nên kiểm tra và chỉnh lại một lần.

Cách chỉnh khe hở xú - páp

Chỉnh khe hở là để một khe giữa đuôi súp-páp và cò mổ để khi động cơ nóng, súp-páp nở dài vẫn bảo đảm đóng kín buồng nổ. Khe hở quy định cho súp-páp hút và thoát động cơ Honda là 0,05 ly. Nên chỉnh lúc động cơ nguội.

Nếu khe hở trên quá bé, động cơ sẽ mất sức ép lúc nóng và súp-páp nở dài về phía buồng nổ làm cho lợi và bệ súp-páp không còn đóng kín nữa. Ngược lại nếu khe hở súp-páp lớn hơn quy định sẽ gây kêu to khi động cơ vận hành, đầu cò và đuôi súp-páp nhanh hỏng do va đập, động cơ khó nổ vì sai lệch điểm mở của các súp-páp.

Cách chỉnh khe hở súp-páp


Tháo nắp đậy các súp-páp, ấn ngón tay vào cò mổ, quay vô lăng đúng chiều cho súp-páp thoát mở tối đa, đặt lá kim loại dày 0,05 ly và giữa cò mổ và đuôi súp-páp, xoay vít chỉnh ở cò mổ vào hoặc ra đến khi lá kim loại vừa rít (không lỏng quá hoặc chặt quá), giữ cố định vít chỉnh, siết ốc khóa. Đối với súp-páp thoát, làm tương tự (cho súp-páp hút mở tối đa).

Ngoài ra còn có cách chỉnh 2 súp-páp cùng một lúc


Quay vô lăng đúng chiều cho súp-páp hút mở ra rồi đóng kín lại (cò mổ xuống là súp-páp mở, lên là đóng).

Sau khi súp-páp hút vừa đóng kín, quay vô lăng thêm nửa vòng cho chữ "T" đúng vào dấu cố định ở các-te. Lúc này động cơ đang ở cuối thì ép, đầu thì nổ. Tiến hành chỉnh khe hở cả hai súp-páp như trên.

Cách chỉnh khe hở xú - páp

Cách chỉnh khe hở xú - páp

By: Unknown on: 10:55 PM
( Các bệnh ở chế hòa khí ) - Trong khi hoạt động, xe của bạn có thể bị chết máy sau một quãng đường ngắn, chạy không ngọt ở tốc độ cao, nhả khói đen hoặc ì ạch không bốc. Có thể lúc này chế hòa khí có vấn đề. Sau đây là một số bệnh thường gặp và cách chữa.

Các bệnh ở chế hòa khí

Bộ chế hòa khí có công dụng trộn lẫn xăng với không khí theo một tỷ lệ tối ưu giúp khí hỗn hợp cháy trọn vẹn trong buồng nổ. Tỷ lệ hỗn hợp hoàn hảo gồm 1 xăng và 15 không khí. Tuy nhiên tùy theo chế độ làm việc khác nhau của động cơ mà tỷ lệ này thay đổi trong khoảng 1/9-1/18.

Xe chỉ chạy được từng quãng đường ngắn


Chạy được khoảng 200-300m, động cơ lịm dần rồi chết. Khoảng 10 phút sau máy lại nổ được. Đây là hiện tượng nghẽn xăng tại bình chứa hay ở bầu lọc của bộ chế hòa khí.

Cách xử lý: Kéo ống xăng ra khỏi bộ chế hòa khí (khi biết xăng còn đầy trong bình). Nếu không thấy xăng chảy xuống mạnh là do nghẽn tại đáy bình xăng hay trong ống dẫn. Phải tháo bình xăng ra khỏi xe để súc rửa sạch.

Nếu xăng chảy ra mạnh nơi đầu ống chứng tỏ bộ lọc xăng bị bẩn nghẽn phải tiến hành tháo súc.

Xe bị nhả nhiều khói đen, nổ bất thường ở ống bô, xe chạy ì ạch


Đó là hiện tượng thừa xăng, nghĩa là tỷ lệ khí hỗn hợp quá đậm xăng. Với tình trạng này, nồi bugi sẽ đóng đầy bụi đen hoặc ướt nhoèn dầu, điều chỉnh như sau: Lấy kim xăng ra khỏi trụ ga, dịch khoen chặn trên (đưa kim xăng xuống), đồng thời tháo và vệ sinh bầu lọc gió bởi nếu bầu bị bẩn, nghẽn cũng gây ra dư xăng.

Lên ga mà máy không bốc, đôi khi nổ lụp bụp ở chế hòa khí


Đó là hiện tượng thiếu xăng. Có thể khẳng định bằng cách thử đóng một phần bướm gió, động cơ vẫn nổ bình thường hoặc khi đóng 1/2 bướm gió, xe chạy tốt.

Chỉnh lại bằng cách dịch khoen chặn kim xăng xuống (nâng kim xăng lên).

Xe chạy tốc độ cao không ổn


Ở vận tốc chậm và trung bình, xe chạy tốt, nhưng ở tốc độ cao, máy nổ không ngọt.

Tình trạng này là do thiếu xăng ở tốc độ cao vì giclơ chính không chuẩn. Cần thay hoặc chỉnh lại.

Trong trường hợp xe chạy cao tốc nhả khói đen, chứng tỏ giclơ chính lớn, phải thay loại bén hơn hoặc căn lại với sợi dây đồng nhỏ.

Làm sạch bầu lọc gió


Luồng không khí trước khi được vào xi lanh động cơ được chui qua bầu lọc bằng giấy xốp hoặc mút, bụi bẩn sẽ bám nơi mặt ngoài của bầu lọc. Nếu bầu lọc quá bẩn sẽ dẫn đến tắc nghẽn hoặc cản trở khối lượng không khí nạp vào xi lanh, hậu quả là công suất động cơ giảm. 

Nên tiến hành tháo và vệ sinh bầu lọc gió sau mỗi 3.000 km chạy xe. Nếu xe chạy trong môi trường bụi bẩn như nông trường, vùng mỏ than thì phải vệ sinh bầu lọc gió thường xuyên hơn. Cần lưu ý, không bao giờ được nổ máy mà không có bầu lọc gió.

Các bệnh ở chế hòa khí

Các bệnh ở chế hòa khí

By: Unknown on: 10:49 PM

Saturday, January 24, 2015

( Hỏng hóc và sửa chữa phanh đĩa ) - Phanh đĩa, còn gọi là phanh dầu có độ an toàn cao. Tuy nhiên, so với phanh cơ (phanh đùm) truyền thống, hệ thống phanh dầu dễ gặp hỏng hóc và khó khắc phục hơn.

Về độ bền má phanh, phanh đĩa có 2 má diện tích nhỏ hơn so với má phanh cơ. Toàn bộ hệ thống phanh đĩa phơi ra ngoài trong khi phanh cơ nằm gọn, kín trong may-ơ bánh xe, do đó má phanh đĩa chóng mòn hơn. 

Người sử dụng xe cũng khó phát hiện ra độ mòn vì hệ thống phanh dầu luôn tự căn, ép sát má phanh vào đĩa. Tốt nhất, thỉnh thoảng phải quan sát, kiểm tra độ dày của má phanh. Nếu thấy phần phíp (dán vào xương sắt của má phanh) chỉ còn khoảng 1 mm là phải sớm đến hiệu sửa chữa để thay.

Hỏng hóc và sửa chữa phanh đĩa

Thay má phanh


Má phanh thay thế, phổ biến trên thị trường, là loại dán lại. Thợ xe lấy lá côn xe ôtô xẻ, mài rồi dán lên các xương má phanh cũ bằng nhựa ê-bô-xi. Giá loại này khoảng 20-30 nghìn đồng một cặp. Má dán lại đảm bảo chất lượng phải có bề mặt phẳng, dày đều; phần phíp dán lên không chứa vụn tạp của sắt, cát... Má dán lại không thể bền bằng má “gin”. 

Nhưng theo thợ xe có kinh nghiệm, loại má “made in VN” này không cày xước đĩa phanh. Loại này có thể đi được 7.000-10.000 km, tùy vào việc xe có hay đi mưa không. Vì khi đường lầy lội, đất cát bắn vào làm mòn phanh. Cũng có thể thay loại má phanh “gin”, giá trên dưới 100.000 đồng/cặp tùy loại xe.

Dầu phanh giảm chất lượng


Người quen xe, đi khoảng 20.000-25.000 km, sẽ thấy tay phanh khi bóp không còn mềm, nẩy như mới. Điều này có nghĩa dầu phanh đã giảm chất lượng. 

Trường hợp này chỉ còn cách vệ sinh, thay dầu. Cần chú ý thay đúng loại dầu. Dầu phanh có nhiều loại: DOT3, DOT4, SAE J1703, 70R3... nhưng thông thường, nhà sản xuất ghi rõ loại dầu dùng cho phanh của mình ngay trên nắp cốc dầu phanh.

Cách thay dầu được thực hiện theo trình tự sau: 

1/ Mở nắp cốc dầu, dùng xilanh y tế hút bỏ phần dầu còn trong cốc, lấy khăn sạch mềm lau khô.

2/ Đổ từ từ dầu đúng chủng loại (đựng trong lọ kín) cho đầy cốc.

3/ Nới ốc xả (nhỏ, nằm ngay trên cụm phanh, trên đỉnh có lỗ - gọi là air) cho dầu mới đẩy dầu cũ ra, đến khi thấy màu dầu chảy ra đã trong, không có bọt khí thì vặn lại.

4/ Thêm dầu vào cốc cho đủ, đóng cốc dầu lại. Chú ý, bọt khí trong dầu phanh sẽ làm hỏng dầu, phanh hụt không "ăn".

Dầu trong cốc luôn nằm trong khoảng giữa vạch UPPER và LOWER, hoặc đầy (với cốc dầu chỉ có vạch MIN). Tránh để dầu phanh bắn vào mắt, vì rất độc. Phần dầu còn lại để trong lọ kín, không để trẻ chơi nghịch.

Hỏng hóc và sửa chữa phanh đĩa

By: Unknown on: 10:31 PM

Friday, January 23, 2015

( Những chứng bệnh của xe Vespa ) - Đi Vespa có cái thú riêng nhưng hay cũng gặp trở ngại. Nếu xe bị hỏng phải chọn đúng thợ, tiệm mới đáp ứng được việc sửa chữa.

Những chứng bệnh của xe Vespa

Hỏng bộ côn


Vespa đời cũ hay đời mới đều chạy bằng nhông nên bền hơn các loại xe khác vận hành bằng xích. Tuy nhiên, loại này cũng có khuyết tật là thường hỏng, cháy bộ côn, khi đạp cần khởi động thấy trơn tuột, có hai trường hợp: Một là côn đã bị cháy, thứ hai là nhông bị mòn. Nếu thấy khói xe ra nhiều, đậm đặc là phớt bên côn bị hỏng, cần phải thay.

Xe khó nổ


Tình trạng đạp khó nổ chủ yếu có ba nguyên nhân: hơi nén xy lanh kém, pít tông bạc hở, lửa và xăng chỉnh không hợp lý. Ngoài ra, khó nổ thường do bị ngợp xăng, khi dừng xe nên khoá xăng lại để tránh tình trạng ngợp này. Nếu đã làm kỹ như vậy mà vẫn khó nổ, có thể do hỏng kim xăng hoặc phải nghiêng xe đạp mạnh mới nổ thì cần chỉnh lại gió.

Hao xăng


Các loại Vespa đời cũ đều có thể chuyển vít lửa sang sử dụng IC như những loại đời mới. Chuyển sang IC có lợi là ít hao xăng, xe chạy êm máy hơn và dễ nổ.

Giảm xóc bị chai


Giảm xóc bị hỏng, liệt lúc xe khi chạy sẽ bị nẩy, chạy không được đằm, có thể mang đi phục hồi hoặc thay mới vì giá giảm xóc không đắt lắm.

Đèn không sáng


Những loại Vespa đời cũ đèn không được sáng vì điện ra chỉ 6V thay vì 12V. Nhưng nhiều nơi sửa xe có bí quyết riêng để làm tăng độ sáng, có nơi làm cho đèn sáng thêm bằng cách gắn thêm một bộ bin nhưng thường chạy quá 60 km/giờ thì dễ bị cháy bóng.

Chú ý chuyện xăng, dầu nhờn


Vespa chạy xăng pha dầu nhờn, tại các cây xăng thường pha tỷ lệ 2%, tuy nhiên có thể pha từ 2- 4% dầu nhờn dùng chạy trong thành phố, 6% dầu nhờn chạy đường trường, nhưng cũng không nên quá lạm dụng pha nhiều quá vì sẽ làm đen và bẩn bugi dẫn đến khó nổ hay chết máy. Để bảo quản tốt xe, đi được chừng 1500 - 2000km nên thay dầu nhờn cho máy.

Những chứng bệnh của xe Vespa

By: Unknown on: 10:58 PM

 
Copyright © Người đẹp - Siêu xe
Blogger Templates Wallpapers Hack Wfi